Physical Address
304 North Cardinal St.
Dorchester Center, MA 02124
Physical Address
304 North Cardinal St.
Dorchester Center, MA 02124

Trong nhà máy thép, phần lớn thiết bị chính đều nặng và cồng kềnh: giá cán, hộp số, động cơ công suất lớn, máy biến áp lò, dầm cầu trục hay các mô-đun của dây chuyền đúc phôi. Khó khăn không chỉ nằm ở khối lượng. Thiết bị thường phải đặt sâu bên trong nhà xưởng, sát móng máy hoặc giữa các cột kết cấu, nơi xe cẩu không thể tiến sát.

Vì vậy, chọn cẩu cho nhà máy thép không thể chỉ dựa vào câu hỏi “thiết bị nặng bao nhiêu tấn”. Cần xét cùng lúc tổng tải nâng, bán kính làm việc, chiều cao nâng và điều kiện mặt bằng. Một chiếc cẩu có tải định danh lớn vẫn có thể không nâng được thiết bị nếu bán kính quá xa.
Với những hạng mục vừa nặng vừa phải đặt ở bán kính lớn, nhiều nhà thầu cơ điện ở khu vực phía Nam chọn thuê cẩu bánh lốp tải trọng lớn từ các đơn vị chuyên cẩu siêu trọng như Samcocranes, thay vì đầu tư thiết bị riêng cho vài lần lắp đặt. Dưới đây là 5 bước các kỹ sư lắp máy thường dùng để chọn đúng tải trọng cẩu.
Tải cần nâng luôn lớn hơn khối lượng thiết bị ghi trên catalogue. Tổng tải nâng gồm các thành phần sau:
Ví dụ minh họa: hộp số 40 tấn, thanh treo 2 tấn, cáp và ma ní 0,5 tấn, móc cẩu 1,5 tấn. Tổng tải cần tính là 44 tấn, cao hơn khối lượng thiết bị khoảng 10%.
Nếu thiết bị có trọng tâm lệch, như động cơ liền bệ hay giá cán có trục nhô một phía, cần xác định trọng tâm để bố trí điểm treo. Treo sai trọng tâm khiến tải nghiêng ngay lúc nhấc khỏi mặt đất.

Bán kính làm việc là khoảng cách theo phương ngang từ tâm quay của xe cẩu đến tâm móc khi treo tải. Đây không phải khoảng cách từ đầu xe đến thiết bị. Trong nhà máy thép, bán kính thường lớn vì ba lý do:
Cần đo hai giá trị: bán kính lúc nhấc tải và bán kính tại vị trí đặt cuối cùng. Giá trị lớn hơn là giá trị quyết định.
Chiều cao nâng tính từ mặt bằng đứng xe đến điểm treo, cộng chiều cao thiết bị, dụng cụ treo và khoảng an toàn khi vượt chướng ngại như mép tường hay xà mái. Chiều cao và bán kính cùng quyết định chiều dài cần phải dùng, và cần càng dài thì sức nâng càng giảm.
Sơ đồ tải (load chart) do nhà sản xuất cẩu cung cấp, cho biết sức nâng tối đa ứng với từng tổ hợp chiều dài cần và bán kính. Khi đọc, cần nắm ba nguyên tắc:
Vì vậy, có những trường hợp thiết bị chỉ vài chục tấn nhưng vẫn phải dùng cẩu 250–300 tấn. Ở bán kính lớn, chỉ các dòng cẩu lớn mới còn đủ sức nâng cần thiết.
Hãy yêu cầu đơn vị cho thuê cung cấp sơ đồ tải bản gốc của đúng model và đúng cấu hình đối trọng họ sẽ mang đến, đối chiếu với tài liệu kỹ thuật của nhà sản xuất. Một bảng tải của model khác, dù cùng trọng tải danh nghĩa, có thể chênh lệch đáng kể ở cùng bán kính.
Không nên chọn cẩu chạy sát 100% sơ đồ tải. Nhiều nhà thầu và quy trình an toàn nội bộ coi các lần nâng vượt khoảng 75–80% sức nâng cho phép là nâng tới hạn (critical lift). Khi đó cần có phương án nâng bằng văn bản, kiểm tra kỹ hơn và người giám sát riêng.
Ngoài ngưỡng tải, các trường hợp sau cũng thường được xếp vào nâng tới hạn:
Một số yếu tố làm giảm sức nâng thực tế so với bảng: gió mạnh khi dùng cần dài hoặc tải có diện tích chắn gió lớn, nền lún không đều, tải bị lắc khi quay. Nhiều sơ đồ tải ghi kèm giới hạn tốc độ gió cho phép, cần đọc cùng bảng.

Cách làm thực tế: chia tổng tải nâng cho sức nâng theo bảng ở bán kính xa nhất. Nếu tỷ lệ vượt ngưỡng nâng tới hạn, hãy chuyển lên cấu hình đối trọng lớn hơn hoặc chọn cẩu cao hơn một cấp tải trọng. Đồng thời yêu cầu đơn vị cho thuê xuất trình giấy kiểm định thiết bị nâng còn hiệu lực và chứng chỉ của người vận hành.
Cẩu tải trọng lớn truyền áp lực rất lớn xuống từng chân chống. Trong khuôn viên nhà máy thép thường có nền đắp, cống ngầm, hố xỉ cũ hoặc bể nước, nên cần khảo sát kỹ trước ngày cẩu:
Thời gian vận chuyển và lắp dựng cẩu cũng nên đưa vào tiến độ. Với cẩu lớn, phần việc này có thể chiếm vài giờ đến cả ngày, trước khi lần nâng đầu tiên bắt đầu.
Bảng dưới đây chỉ mang tính định hướng ban đầu. Quyết định cuối cùng phải dựa trên bảng tính với sơ đồ tải của đúng model, đúng bán kính thực tế.
| Hạng mục | Đặc điểm khi nâng | Hướng chọn cẩu |
|---|---|---|
| Tủ điện, động cơ nhỏ, quạt hút | Nhẹ, bán kính ngắn, đặt ngoài trời | 25–50 tấn |
| Động cơ cán, hộp số, giá cán cỡ vừa | Vài chục tấn, đưa vào xưởng qua mái | 100–250 tấn, tùy bán kính |
| Dầm cầu trục, kết cấu mái nhịp lớn | Dài, cần nâng cao, có thể phải dùng hai cẩu | 100–300 tấn, cân nhắc nâng tandem |
| Máy biến áp lò, mô-đun dây chuyền | Nặng và phải đặt ở bán kính xa | 300 tấn trở lên, đối trọng tối đa |
| Thân lò, bồn chứa lớn, thiết bị siêu trọng | Rất nặng hoặc kích thước quá khổ | 400–500 tấn hoặc cẩu bánh xích |
Cùng một hạng mục có thể cần hai cấp cẩu khác nhau giữa hai nhà máy, chỉ vì vị trí đứng xe xa hơn vài mét.
Chọn cẩu cho nhà máy thép là bài toán giữa tải nâng, bán kính và mặt bằng, không chỉ là con số tải trọng ghi trên thân xe. Trước khi chốt phương án, hãy rà lại các điểm sau:
Làm đủ các bước trên, nhà thầu vừa tránh thuê cẩu thiếu tải phải đổi xe giữa chừng, vừa không phải trả tiền cho một cấp cẩu lớn hơn mức cần thiế